Theo dòng lịch sử

Lịch sử để lại cho các bậc quân vương trị nước bốn bài học lớn, những bài học mà theo dòng chảy thời gian, đã được bồi đắp thêm, vun đắp thêm, bằng máu và nước mắt, bằng những sự đổ vỡ, thậm chí phải trả giá bằng cả những đằng đẵng nô lệ đêm trường.
Một là, để cảm xúc cá nhân, để câu chuyện cá nhân, ảnh hưởng đến chuyện quốc gia dân tộc. Mỵ Châu, Trọng Thủy & Thục phán An Dương Vương là ví dụ tiêu biểu.
Hai là, không được lòng dân.
Hồ Quý Ly là ví dụ điển hình, đây là một người giỏi, giỏi từ việc êm thấm tước đoạt quyền lực từ nhà Trần, tới việc thi hành các chính sách cải cách đi trước thời đại khi nắm quyền. Xây thành không ai xây giỏi như Hồ Quý Ly, thành Tây Đô [thành Nhà Hồ] là một tòa thành quy mô nhất trong khu vực Đông Nam Á dù chỉ cần vẻn vẹn 6 tháng để hoàn thành. Chế tạo vũ khí không ai chế tạo giỏi như Hồ Quý Ly, hệ thống súng ống của Nhà Hồ thậm chí còn mạnh hơn cả nhà Minh trong bối cảnh đó.
Và quân đội của Hồ Quý Ly là một quân đội với số lượng khổng lồ nhất trong lịch sử, đã có lúc chiếm tới gần 1/3 dân số, tương đương trên dưới 1 triệu binh sĩ.
Thành cao hào sâu như thế, vũ khí như thế, quân đội như thế, nhưng chỉ chưa đầy nửa năm phát động chiến tranh, Nhà Minh đã quét sạch Nhà Hồ và tái lập lại chế độ Bắc thuộc ở nước Nam.
Chỉ đơn giản vì Hồ Quý Ly đánh mất lòng dân, thoán đoạt nhà Trần quá lộ liễu, thi hành các chính sách cải cách quá vội vã, pháp luật hà khắc hòng củng cố ngân sách quốc phòng thông qua thuế khóa, ép buộc người dân phải tham gia vào nghĩa vụ quân sự…
Câu chuyện Hồ Quý Ly là câu chuyện điển hình về việc dù anh có tài giỏi đến mấy, nhưng nếu anh mất lòng dân, thì kết cục vẫn chỉ là thất bại mà thôi.
***
Thứ ba, là xem thường dân.
Người ta nói rằng bản chất suy yếu và sụp đổ của triều đại nhà Nguyễn, nó không bắt nguồn từ điều gì to tát, mà lần đầu tiên trong lịch sử giai cấp thống trị bị đánh mất quyền lực của mình chỉ đơn giản bởi lẽ, họ xem thường dân.
Lần đầu tiên, một lời kêu gọi nổi dậy, khởi nghĩa, không hẳn phải vì sưu thuế, không hẳn phải vì áp bức, mà là đi ra từ nhìn nhận rằng, triều đình đã quá xem thường dân. Trương Định, với ngọn cờ “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân” đã âm ỉ thổi bùng lên ngọn lửa phản kháng trong nhân dân, tạo tiền đề cho triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, bước vào giai đoạn suy tàn.
Họ đã nhượng lãnh thổ quốc gia cho Pháp sau lưng nhân dân.
Họ đã sợ nhân dân hơn sợ giặc.
***
Và cuối cùng, thứ tư, là những phản xạ quá bảo thủ, quá chậm chạp, trong vấn đề tiếp cận văn minh nhân loại.
Thời Minh Mạng, lãnh thổ của chúng ta phát triển đến mức cực đại, ôm một nửa Cao Miên [Campuchia], hiểu đơn giản là ôm gọn cả Phnôm Pênh lúc này, chúng ta thực sự đã là một đế quốc, một đế quốc Đại Nam đúng nghĩa của Đông Nam Á.
Nhưng chúng ta bảo thủ, máy móc, trong việc mở mang tiếp cận những giao thương buôn bán có yếu tố quốc tế, chúng ta chưa khéo léo trong việc gạn đục khơi trong để tận dụng các giá trị văn minh của người Pháp, và chúng ta lạc hậu, chúng ta tự biến mình thành một Mãn Thanh phương Đông, đi chậm và thụt lùi,
Và đến một ngày, không chống đỡ nỗi trước những sự ảnh hưởng vô bờ bến của khí tài hiện đại, của khoa học kỹ thuật, của giá trị hội nhập giao thương buôn bán, chúng ta tự làm suy yếu chúng ta.
Chúng ta phải nhớ rằng, thời Minh Mạng, thì Đại Nam là quốc gia đầu tiên của Châu Á mà Andrew Jackson, vị tổng thống thứ 7 của nước Mỹ , đã thậm chí phải cử người chầu chực gần 1 tháng trời để đề đạt được kết nối giao thương.
Và đế quốc Đại Nam khi đó, đã kiêu hãnh từ chối, để rồi cơ hội đó chuyển sang tay Thái Lan, và suốt 200 năm qua, cú ký kết với thằng Thái vẫn là một trong những cú ký kết lâu đời và bền vững bậc nhất của Mỹ.
Mời gúc kiểm chứng.
***
Bốn cái lý do lớn đó, là bốn câu chuyện mang tính chất truyền đời, đầy rẫy máu và nước mắt, mà cứ mỗi thế hệ qua đi thì các bậc tiền nhân lại bồi đắp, chắt chiu, và để lại cho các thế hệ đi sau.
Việt Nam với những người Cộng Sản từ những ngày lập quốc bây giờ, hầu như đã tiếp thu và xử lý rất tốt những di sản của tiền nhân để lại, có chăng, khi đến những ngày này, những năm đầu của thế kỷ 21, khi mà sự hòa bình và ổn định đã đủ thời gian để phát sinh ra những căn bệnh cố hữu của một cơ thể lành lặn,
Chúng ta phải sòng phẳng mà đánh giá rằng có chăng, nên chăng, rất cần nhìn nhận về bài học số 1 trong lát cắt hiện tại, bài học về An Dương Vương & Trọng Thủy, bài học về làm quan mà không trị được vợ, không dạy được con, để chuyện cá nhân bao trùm chuyện xã hội, nhỏ thì sinh dị nghị đàm tiếu, lớn thì làm ảnh hưởng chuyện quốc gia đại sự, việc tư lấn át việc công, lợi ích đồng bào hóa thành công cụ cho những toan tính nhỏ mọn mất hết liêm sỉ,
Của những kẻ sau rèm, trên gối.